Hai người cùng đứng trước một kế hoạch bất ngờ bị hủy bỏ vào phút chót. Một người bực bội, cảm thấy cả tuần chuẩn bị của mình đã đổ sông đổ biển và không ngớt phàn nàn về sự thiếu chuyên nghiệp của đối tác. Người còn lại sau vài phút ngỡ ngàng liền mỉm cười nhẹ, bảo: “Thế là tự dưng ta lại có trọn vẹn cả buổi chiều thứ Sáu thảnh thơi để đọc nốt cuốn sách dở.” Sự việc xảy ra hoàn toàn giống nhau, mốc thời gian không đổi, nhưng trải nghiệm tâm lý lại thuộc về hai thế giới cách xa.

Chúng ta vẫn thường tin rằng hoàn cảnh bên ngoài tạo nên niềm vui hay nỗi buồn của mình. Nhưng từ hơn hai ngàn năm trước, Trang Tử đã dùng một câu chuyện ngụ ngôn hóm hỉnh để chỉ ra rằng: điều trói buộc hay giải phóng ta thường không nằm ở sự việc, mà nằm ở chiếc lăng kính ta dùng để soi vào sự việc ấy.

Triêu tam mộ tứ và cái thấy “lưỡng hành”

Trong thiên Tề vật luận (齊物論), Trang Tử kể câu chuyện về một người nuôi khỉ chia hạt dẻ cho đàn khỉ. Ông bảo: “Mỗi ngày sáng cho ba quả, chiều cho bốn quả” (triêu tam nhi mộ tứ). Bầy khỉ nghe thấy thế thì đùng đùng nổi giận, cho rằng buổi sáng nhận được quá ít. Thấy vậy, người nuôi khỉ liền đổi lời: “Vậy thì sáng cho bốn quả, chiều cho ba quả” (triêu tứ nhi mộ tam). Lũ khỉ nghe xong lập tức nhảy múa mừng rỡ, cảm thấy mình vừa giành được một món lợi lớn.

Trang Tử bình rằng:

“Danh thực vị khuy nhi hỷ nộ vi dụng, diệc nhân thị dã. Thị dĩ thánh nhân hòa chi dĩ thị phi nhi hưu hồ thiên quân, thị chi vị lưỡng hành.” (Danh và thực chẳng hề hao tổn mảy may mà mừng giận lại thay đổi theo, cũng là bởi nương vào cái thế ấy vậy. Cho nên bậc thánh nhân hòa giải mối phân định phải trái mà nghỉ ngơi nơi sự quân bình tự nhiên của trời đất, đó gọi là đi cả hai lối — lưỡng hành).

Đọc câu chuyện, người đời thường bật cười trước sự ngây ngô của bầy khỉ vì tổng số hạt dẻ trong ngày vẫn vẹn nguyên là bảy quả. Nhưng nhìn lại chính mình, ta có khác bầy khỉ là bao? Ta dễ dàng vui sướng khi nhận được một lời khen thoảng qua vào buổi sáng, rồi lại chìm vào buồn bã u uất khi nghe một lời chê bai vào buổi chiều. Ta thường xuyên bị chi phối bởi thứ tự trước sau, bởi cách đóng gói câu chữ, và bởi cái nhìn cục bộ ngay trước mắt mà quên mất bức tranh toàn cảnh.

Bậc trí giả theo Trang Tử không lao vào tranh cãi với đàn khỉ xem ba cộng bốn hay bốn cộng ba cái nào tốt hơn. Họ nhận ra sự vận hành tương đối của vạn vật và chọn cách “hưu hồ thiên quân” — yên nghỉ nơi thế cân bằng của tự nhiên, dung chứa được cả hai lối nhìn mà không bị mắc kẹt vào lối nào. Đó chính là tinh thần lưỡng hành (兩行).

Đứng ở khoảng giữa để lòng rộng rãi

Trong đời sống thường nhật, việc mở rộng lòng để thấy hai cách nhìn cùng một việc không phải là thái độ thờ ơ, ngụy biện hay ru ngủ bản thân trước khó khăn. Đó là sự tỉnh táo sáng suốt để không biến một góc nhìn tạm thời thành một bản án tuyệt đối.

Khi một ngã rẽ quen thuộc bị chặn lại:

Cả hai cách nhìn đều có căn cứ của chúng. Nhưng nếu ta chỉ bám chặt lấy cách nhìn thứ nhất, ta sẽ tự giam mình trong bức bối và oán trách. Khi ta biết lùi lại một bước, nhận biết sự việc như nó đang là và cho phép cách nhìn thứ hai cùng xuất hiện, tâm trí ta lập tức có thêm một khoảng thở.

Sự tự do lớn nhất của con người không phải là điều khiển được mọi biến cố xảy ra trong đời, mà là quyền tự do lựa chọn góc nhìn để đón nhận biến cố ấy. Giữa sáng ba chiều bốn hay sáng bốn chiều ba, bảy quả hạt dẻ của đời sống vẫn vậy; chỉ có tâm người biết thong dong đi giữa đôi bờ mới tìm thấy sự nhẹ nhõm đích thực.

Nguồn và đường đọc tiếp

Nguyên văn đối chiếu: Tề vật luận, thiên 2, đoạn người nuôi khỉ chia hạt dẻ; tham khảo Chinese Text Project. Bản nền tiếng Việt: Nguyễn Hiến Lê, Trang Tử và Nam Hoa Kinh, phần Tề vật luận. Các tình huống và phân tích hiện đại là liên hệ của người viết.

Đọc thêm bài trước trong cùng thiên sách: Tề vật luận: khi điều mình thấy chưa phải toàn cảnh, hoặc trở về sơ đồ hành trình Trang Tử.