Một gia đình đã quen dành cả tuần chọn nơi đi vào cuối tuần. Họ xem ảnh, so quãng đường, tìm chỗ ăn rồi đặt lịch thật kín. Có chuyến vui, cũng có chuyến về đến nhà ai cũng mệt. Một sáng, vì người bạn hủy hẹn, cả nhà ở lại khu phố. Họ đi chợ gần, ăn sáng ở quán quen rồi ngồi dưới hiên đọc sách. Đứa trẻ mang chậu cây sang hỏi bác hàng xóm cách chăm. Buổi sáng không có nhiều điều để kể, nhưng đủ chỗ cho một cuộc trò chuyện vốn thường bị bỏ qua. Người mẹ chợt muốn biết thêm về nơi mình đã ở nhiều năm mà ít khi dành trọn một buổi để nhìn.

Nguyên văn và Hán Việt

Nguyên văn theo Đạo Đức Kinh, bản Vương Bật, chương 80 trên Wikisource. “Thập bách chi khí” là cụm có nhiều cách giải; bản dịch dưới đây chọn hướng dụng cụ có công dụng bằng mười, bằng trăm người.

小國寡民,使有什伯之器而不用,使民重死而不遠徙。雖有舟輿,無所乘之;雖有甲兵,無所陳之。使人復結繩而用之,甘其食,美其服,安其居,樂其俗。鄰國相望,雞犬之聲相聞,民至老死,不相往來。

Tiểu quốc quả dân, sử hữu thập bách chi khí nhi bất dụng, sử dân trọng tử nhi bất viễn tỉ. Tuy hữu chu dư, vô sở thừa chi; tuy hữu giáp binh, vô sở trần chi. Sử nhân phục kết thằng nhi dụng chi, cam kỳ thực, mỹ kỳ phục, an kỳ cư, lạc kỳ tục. Lân quốc tương vọng, kê khuyển chi thanh tương văn, dân chí lão tử, bất tương vãng lai.

Dịch tiếng Việt dễ hiểu

Bản dịch mới cho bài viết:

Nước nhỏ, dân ít. Dù có dụng cụ làm bằng sức mười, sức trăm người, cũng không cần dùng tới; khiến dân coi trọng sự sống, không liều chết mà chuyển đi xa.

Dù có thuyền xe, không có việc phải dùng; dù có áo giáp, binh khí, không có việc phải bày ra. Khiến người trở lại dùng dây thắt nút để ghi việc.

Thấy thức ăn mình ngon, áo quần mình đẹp, nơi ở mình yên, phong tục mình vui. Nước láng giềng nhìn thấy nhau, nghe được tiếng gà chó của nhau, mà dân đến già chết vẫn không qua lại.

Một hình dung cần được đọc cả phần khó

Chương đưa ra hình dung về một cộng đồng nhỏ, ít nhu cầu phải di chuyển, không dùng đến phương tiện chiến tranh và bằng lòng với sinh hoạt gần mình. Những chữ về thức ăn, áo quần, nơi ở và phong tục đặt sự đủ đầy vào trải nghiệm hằng ngày.

Nhưng văn bản còn có việc không dùng dụng cụ, trở lại dây thắt nút và không qua lại với nước bên cạnh. Nếu chỉ giữ vài câu đẹp về bữa cơm, ta sẽ bỏ mất tính triệt để của hình dung ấy. Bài chọn đọc đây như một lý tưởng chính trị cổ để suy xét, không xem là bản thiết kế có thể áp nguyên vào xã hội hôm nay.

“Thập bách chi khí” có thể được hiểu theo hướng công cụ tăng sức hoặc khí cụ gắn với tổ chức nhiều người. Cách dịch đã chọn ở đây không quyết định hết tranh luận. Điều tương đối rõ trong mạch câu là có phương tiện mà không bị thúc phải đem ra dùng.

Nơi mình ở có đủ điều để sống không?

Từ hình dung trong chương, người đọc hôm nay có thể hỏi về chất lượng của đời sống gần: có một chỗ ngồi dễ chịu, có bữa ăn vừa miệng, có người để chào hỏi, có khoảng đi bộ không phải vội? Những điều ấy cần được chăm bằng hành động và điều kiện thực tế.

Gia đình trong câu chuyện có thể bắt đầu bằng việc dành một buổi ở lại khu phố, tìm hiểu nơi sinh hoạt chung hoặc trò chuyện với người vẫn gặp. Họ không cần biến mọi cuối tuần thành một chương trình khám phá. Khi chú ý đến điều gần, sự lựa chọn đi xa cũng có thể bớt bị dẫn bởi nỗi sợ bỏ lỡ.

Tuy nhiên, không phải ai cũng đang ở nơi yên ổn. Có người cần rời đi để học, tìm việc, được chăm sóc hoặc tránh một hoàn cảnh gây hại. Gọi đời sống hiện tại là đủ khi nhu cầu thiết yếu chưa được đáp ứng sẽ làm lời khuyên giản dị trở nên xa cách.

Ở lại có ý nghĩa khi còn quyền lựa chọn

Câu cuối về hai nước không qua lại tạo một khoảng cách rõ với đời sống hiện đại. Giao lưu có thể mở hiểu biết, giúp đỡ lẫn nhau và cho ta thấy giới hạn của nơi quen thuộc. Không nên dùng câu cổ để ngăn người khác học hỏi hoặc xem mọi điều bên ngoài là nguy cơ.

Phần có thể mang theo là câu hỏi về động lực: mình đi vì điều gì thật sự cần, vì niềm vui khám phá hay chỉ vì không chịu được cảm giác đang ở yên? Cả việc đi lẫn ở đều đáng được lựa chọn với sự hiểu mình.

Với phương tiện và đồ dùng cũng vậy, có khả năng mua hoặc sử dụng chưa tạo thành một nhu cầu. Gia đình có thể giữ những thứ đang giúp cuộc sống thuận tiện, đồng thời để trống một buổi khỏi các lịch hẹn không cần thiết. Sự giản dị được thử bằng điều gì làm ngày sống dễ chịu và có ý nghĩa hơn.

Bài học và một buổi dành cho nơi gần

Chọn một khoảng thời gian để chăm nơi mình đang sống: sửa góc ngồi, cùng nấu bữa cơm hoặc hỏi thăm một người hàng xóm. Sau đó nhìn lại điều gì đã làm mình thấy gần gũi, điều gì nơi này còn thiếu và mình có thể góp phần thay đổi.

Đến chiều, gia đình vẫn có thể bàn về một chuyến đi khác. Nhưng dưới hiên đã có thêm một chậu cây và một câu chuyện với người ở cạnh. Đời sống gần được chăm hơn sẽ trở thành nơi để trở về, kể cả khi ta còn muốn đi xa.

Đọc tiếp chương 81: Lời chân thật, việc làm không tranh, hoặc trở về sơ đồ 81 chương.